Thứ tư ,26/11/2014
Tìm kiếm

PHÚ YÊN VÀ CÁC ĐỊA DANH NỔI TIẾNG
1.Núi đá bia
2.Gành Đá Đĩa
3.Núi Nhạn Sông Đà
4.Cảng Vũng rô
5.Vịnh Xuân đài
6.Núi Chóp Chài
7.Suối nước nóng Triêm Đức
8.Mũi Điện-Nơi đón bình minh sớm nhất
9.Suối nước khoáng Phú Sen
10.Thủy điện sông Ba Hạ
11.Thủy điện sông Hinh
12.Vực Phun
13.Bãi biển Long Thủy-Hòn Chùa
14.Đèo Cả
15.Đầm Ô Loan
16.Sông Bàn Thạch
17.Sông Kỳ Lộ

1.Phong cảnh Núi đá bia

Núi Đông Hòa      Ở độ cao khoảng 706 m, Đá Bia (thuộc Huyện Đông Hòa) nằm trên ngọn núi cùng tên phía nam tỉnh Phú Yên , dọc quốc lộ 1A thuộc dãy đèo Cả. Từ đây, phóng tầm mắt nhìn về bốn hướng bạn sẽ thấy non xanh nước biếc, làng mạc, quê hương như một bức tranh hùng tráng.

     Tương truyền, năm Tân Mão, niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), sau khi thu phục kinh đô Chà Màn, vua Lê Thánh Tông thừa thắng tiến đến đây cho khắc chữ lên mặt đá, làm bia định ranh giới hai nước Đại Việt - Chiêm Thành.

     Không những nơi đây có lịch sử ngàn xưa mà còn là một thắng cảnh tuyệt đẹp. Đường từ chân núi lên đỉnh Đá Bia có nhiều trạm nghỉ để du khách dừng chân chiêm ngưỡng phong cảnh. Nhìn xuống phía đông, Vũng Rô hiện ra phẳng lặng, huyền ảo dưới những đám mây bồng bềnh. Hướng tây, đường lên đèo Cả như những dấu hỏi, dấu ngã, những nét vẽ ngoằn ngoèo ngộ nghĩnh; từ quốc lộ 1A khúc quanh Hảo Sơn như những nét chấm phá tương phản với biển, hồ, với dòng Bàn Thạch loang nước. Xa xa, thấp thoáng hiện ra những ô ruộng vuông vắn xanh biếc...

     Đỉnh Đá Bia còn là nơi rất thiêng liêng đối với người dân địa phương. Tại đây người ta đã tạo ra một nơi thờ phụng để các thế hệ con cháu lên tế lễ tiền nhân và tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ hy sinh vì đất nước. Theo vnexpress.net

   

2.Gành Đá Đĩa

Gành Đá Đĩa      Gành Đá Đĩa là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng thuộc thôn 6, xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên . Từ thị trấn Chí Thạnh huyện Tuy An đi theo đường xã lộ Cây Keo-An Ninh về hướng Đông chừng 10 km là tới. Từ thành phố Tuy Hòa, đi trên quốc lộ 1A ngược ra hướng Bắc khoảng 31km, gần đến cầu Ngân Sơn thuộc huyện Tuy An, bạn rẽ vào một con đường rải nhựa dài 12 km, thẳng tắp và khá ấn tượng với những cánh đồng rộng, những đồi núi chập chùng là đến Đá Đĩa.

     Gành Đá Đĩa có diện tích khoảng 2 km vuông, chiều rộng tối thiểu 50 mét, chiều dài tối đa 200 mét. Gành có cấu tạo tự nhiên hết sức kỳ lạ: những cột đá hình ngũ giác, lục giác dựng đứng thành từng cột khít nhau, đều tăm tắp như có đôi tay khổng lồ nào đó sắp đặt. Đá đứng, đá ngồi, đá nằm, đá ngông nghênh như những cây cột chống trời, đá bày thạch trận giữa trùng khơi… Nhìn từ xa, Đá Đĩa trông như một tổ ong, lại gần lại giống như những chồng chén đĩa trong các lò sành sứ. Có lẽ vì thế mà có tên gọi như vậy.

     Những cột đá ở đây có màu đen huyền hoặc nâu vàng, nửa chìm nửa nổi trên mặt nước biển. Mỗi viên đá có độ dày từ 60-80 cm. Do đứng nhô ra biển, quanh năm sóng vỗ nên đã tạo thành những lỗ khuyết tròn láng. Ở giữa gành có một hõm trũng, nước mưa, nước biển đọng lại lại tạo thành vũng và trong đó có nhiều loại cá nhỏ, có màu sắc sặc sỡ: xanh, vàng, tím, hồng nhạt… bơi lội tung tăng. Xung quanh hõm nước này, đá dựng thành cột liền khít nhau.

     Bao quanh gành đá là một bãi cát hình cong lưỡi liềm dài khoảng trên dưới 3 km. Cát trắng mịn, bạc sáng trong nắng ban mai lấp loá, là một bãi tắm rất tốt. Ở Gành Đá Đĩa, bạn có thể ngồi hàng giờ câu cá dò, cá dìa, cá vẩu... hoặc cùng các cậu nhỏ người địa phương đi cạy “vú nàng” — một loài nghêu sống bám vào ghềnh đá, rồi nướng muối ớt xanh tại chỗ để nhâm nhi vài xị đế...

     Theo các nhà địa chất học, từ hàng triệu năm trước núi lửa hoạt động trong khu vực này, phun nham thạch ra bề mặt trái đất rồi nguội lại đông cứng thành đá. Trên thế giới hiện nay, ngoài gành Đá Đĩa ở Việt Nam thì Scotland là nơi thứ hai có một địa điểm đá xếp chồng thành những cột thẳng đứng giống như gành Đá Đĩa Việt Nam, có tên gọi là Giant’s Causeway (Con Đường Của những Người Khổng Lồ), đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1986. Riêng gành Đá Đĩa đã được Bộ VHTT xếp hạng thắng cảnh thiên nhiên cấp quốc gia vào năm 1998.

TRUYỀN THUYẾT:

     Gành Đá Đĩa không chỉ thu hút du khách bở vẻ đẹp lạ kỳ mà nó còn nhuốm màu huyền thoại với truyền thuyết kho báu biến thành đá. Truyền thuyết kể rằng, xưa kia, có một người nọ rất giàu có nhưng chẳng may vợ chết sớm, chưa kịp có với nhau mụn con nào. Vốn là người chung thuỷ, ông ta không tục huyền và nảy ra ý định tu tập Phật pháp. Bao nhiêu của cải vàng bạc châu báu, ông đều đem phân phát cho người dân trong vùng để làm kế mưu sinh. Số còn lại ông cất vào kho cạnh bờ biển (tức thôn 6 xã An Ninh Đông ngày nay) với ý định là sau này khi thành đạo, số của cải ấy sẽ đem ra xây dựng chùa chiền và dâng tặng cho vị minh quân nào yêu thương con dân như con đẻ. Sau thời gian dài tu tập thành Đạo, ông theo Phật về cõi Niết bàn chưa kịp dùng số của cải kia cho ý tưởng tốt đẹp ban đầu.
     Biết có kho tiền cạnh bờ biển, nhiều kẻ nảy lòng tham, đang đêm hè nhau đến kho cướp bóc, đốt kho, tuy nhiên, tất cả kho báu đã biến thành đá. Ngoài ra còn có nhiều dị bản khác nhau, nhưng nhìn chung đều giải thích rằng, gành Đá Đĩa chính là số của cải vàng bạc của một người thương buôn tốt bụng biến thành. Một số cụ già ở Tuy An thì kể rằng xưa kia vùng đất này có cảnh trí rất thơ mộng, đến nỗi các vị tiên từ thiên đình chọn nơi đây làm nơi đối ẩm đề thơ, ngâm vịnh. Vì thế cho nên họ đã chuyển chén vàng dĩa ngọc từ cung đình xuống để bày yến tiệc, ngắm cảnh. Đến khi các vị tiên này ngao du cảnh trí ở những nơi khác thì bỏ quên số chén dĩa nói trên, lâu ngày hóa thành những cột đá để An Ninh Đông có gành Đá Đĩa tuyệt đẹp như ngày nay.

   

3.Núi nhạn Sông Đà

Núi nhạn sông đà     Núi Nhạn - Sông Đà: Là cụm thắng cảnh đã để lại nhiều ấn tượng với du khách khi đặt chân đến Phú Yên. Núi Nhạn nằm bên bờ Bắc sông Đà Rằng, thuộc địa phận phường I, thành phố Tuy Hòa.Núi Nhạn còn có tên gọi khác là “Núi Bảo Tháp” hoặc “Tháp Dinh”. Đứng ở độ cao 64 m trên đỉnh núi Nhạn, ta có thể bao quát một vùng non nước Phú Yên với toàn cảnh thành phố Tuy Hoà, làng hoa Bình Ngọc, núi Đá Bia, Biển Đông và hai chiếc Cầu đường sắt và đường bộ dài 1.100 m bắt song song qua sông Đà Rằng. Trên đỉnh Núi Nhạn có Tháp Chàm cổ kính, còn có tên gọi là Tháp Nhạn được người Chiêm Thành xây dựng vào khoảng thế kỷ 11. Tháp có cấu trúc khối hình chóp vuông vững chắc cao 25m, gồm tất cả 4 tầng thu nhỏ dần khi lên cao.

    Núi Nhạn nằm một góc giữa chỏm cắt của QL1A và nhánh sông Chùa thuộc phường Bình Nhạn nay gọi là phường I thành phố Tuy Hoà. Núi cao 60 mét so với mặt nước biển, có đường chu vi quanh núi khoảng trên 1 km. Núi Nhạn có hình thế xoè ra như hình con chim nhạn xoè đôi cánh, với phần đầu là chỗ giao nhau giữa QL1A và sông Chùa, cổ thon nhỏ lại rồi phình to ra như đôi cánh chim ở phần đường Tản Đà, vì vậy nên mới có tên gọi này. Cũng có người cho rằng, ngày xưa núi này như một cù lao nhỏ nằm trong vịnh Tuy Hoà (biển ăn sát đến tận chân dãy Trường Sơn), là nơi để loài chim nhạn làm tổ, trú ẩn. Sau này, vịnh dần dần được bồi lấp tạo nên đồng bằng rộng lớn nối liền cù lao Nhạn với đất liền. Trên núi Nhạn có rất nhiều cây cối rậm rạp, đặc biệt là mai rừng nở vàng vào mùa xuân và mùa hạ, ở phía đông-nam gần sông Chùa có một trảng sim nhỏ, đến mùa hoa sim nở tím cả một vùng. Trên núi có nhiều loài chim như nhạn, cò và đặc biệt là rất nhiều khỉ. Mãi đến năm 1961, khỉ vẫn sống từng đàn trên núi này cho đến khi chiến tranh ác liệt nổ ra, quân đội Sài Gòn cho đóng đồn và đặt súng đại bác trên núi ngày đêm bắn phá các vùng căn cứ, yểm trợ cho các cuộc hành quân nên khỉ đã bỏ về rừng núi đại ngàn, chim chóc cũng di trú nơi khác, cây cối bị đốn chặt phát quang để phục vụ cho tầm quan sát quân sự.

    Trên núi Nhạn có một ngôi tháp do người Chăm xây dựng vào thế kỷ thứ XII (cũng có tài liệu nói là xây vào thế kỷ XIV). Tháp có bình đồ hình vuông, mỗi cạnh 10 mét, cao trên 20 mét có đế móng, thân và mái là những gờ gạch xây nhô ra bên ngoài. Trong tập “Gìn giữ những kiến trúc kiệt tác trong nền văn hóa Chăm” của nhóm tác giả Lưu Trần Tiêu, Ngô Văn Doanh, Nguyễn Quốc Hùng do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc ấn hành năm 2002 thì tháp có 4 tầng, càng lên cao càng thu nhỏ lại, nhưng mô hình và cách thức trang trí từ dưới lên đều giống nhau. Nóc của tháp gồm nhiều lớp xếp, phần chóp được cấu tạo bằng phiến đá nguyên tảng (đã qua đẽo gọt) có hình búp sen cân đều. Đó là biểu tượng Linga của người Chăm. Trên đỉnh tháp, bốn mặt đều có bốn cửa sổ giả, tách biệt giữa phần trên và tầng dưới. Cửa chính ở hướng Đông, phần trên cửa hình vòm, xây cuốn theo kiểu giật cấp. Những hàng gạch bên trên hơi chồm ra so với hàng gạch dưới. Càng lên cao thì chồm ra ít hơn cho đến khi khép kín vòm.

    So với nhiều tháp khác của người Chăm ở Bình Định, Khánh Hoà, Phan Rang hay Mỹ Sơn thì ngọn tháp trên núi Nhạn, bên trong không có tượng thờ cũng như những hoa văn, họa tiết trang trí; duy nhất chỉ thấy những họa tiết hoa văn hình rồng được chạm khắc biến dạng đi hay cách điệu bằng đá hoa cương đặt bên ngoài góc tháp.

    Bên trong tháp, tường xây thẳng đứng cao vút từ phần đế tháp cho đến hết phần thân. Phần mái, tường được thu nhỏ dần cho đến đỉnh, tạo thành hình chóp nón. Trong lòng tháp không có bệ thờ, không có tượng. Từ lâu đời, khoảng thời Hậu Lê, nhân dân xây một cái am nhỏ phía trước để thờ bà Thượng Đỉnh Chúa Thiết A Na Diễn Ngọc Phi. Thời chống Pháp am thờ này bị đập phá. Sau này miếu được xây dựng lại trên nền cũ có đề bốn chữ “Thượng Đỉnh Linh Miếu”.

    Về nghệ thuật tạo hình, thân tháp có tạc tượng thần và những chiếc cột bằng gạch xếp chồng đều nhau thẳng như kẽ chỉ, tạo thành những đường gờ nhô ra để khi trông vào không có cảm giác nặng nề và đơn điệu của một hình khối đồ sộ.

    Vật liệu xây dựng tháp đều bằng gạch nung với nhiều kích cỡ khác nhau tuỳ theo vị trí của từng mảng tường, từng tầng tháp và được xếp liền khít, không thấy mạch hồ song kết dính rất vững chắc. Người ta khó mà biết được kích cỡ của từng viên gạch, nếu không nhờ vào những nơi bị sứt mẻ, bị ngã đổ. Có nhiều viên hình chữ nhật kích thước 40 x 20 x 7 cm. Trụ và xà ngang của cửa chính là khối đá vôi mềm dễ đẽo gọt, đục chạm. Bốn bên mặt ngoài thân tháp có những cột xây áp vào thân tháp mà mục đích có thể là để gia cố cho tháp được vững chắc. Bắt đầu cuốn lên mái, ở bốn góc bên ngoài thân tháp (đoạn tiếp giữa thân tháp và mái) đều được xây nhô ra những trụ hình chóp có kích cỡ rất nhỏ.

    Người Pháp gọi núi Nhạn là núi Khỉ (Montagne des Singes) vì không chỉ trên núi có nhiều khỉ mà chúng còn rất khôn, sống thành bầy đoàn, sẵn sàng hợp quần chống đỡ lại sự đe doạ từ nhiều phía tới, cũng biết trả thù nếu có ai đó làm cho một con trong đàn bị thương hay bị bắt. Xưa, phía bên soi Ngọc Lãng thường trồng bắp, con đầu đàn cho một toán nhỏ canh giữ hai phía đầu cầu sông Chùa rồi chính nó đích thân đưa cả bầy luồn vào đám bắp bẻ và mang lên núi. Những khu dân cư sống quanh chân núi Nhạn đều phải cất giữ rất cẩn thận mọi thức ăn đồ uống, hễ sơ hở là chúng lần vào mang đi mất, chúng hè nhau khiêng cả nồi hai cơm trèo lên vách núi, lấy cắp hoa quả cúng trên trang thờ…

    Mạn đông-nam chân núi Nhạn có ngôi chùa Hàm Long nằm khuất sau chòm cây cổ thụ, lưng tựa vào vách núi đá lớn dựng đứng, cao ngất như muốn nhoài ra ôm choàng lấy ngôi chùa như một chiếc quạt khổng lồ xoè rộng. Chùa Hàm Long sau đổi tên là Kim Long tự và được vua Bảo Đại năm thứ 5 ban sắc tứ.

    Dưới chân vách đá, bên cạnh chùa có một cái hang, đường kính chừng 3 mét xuyên vào lòng núi và ăn thông ra bờ sông. Các cụ ngày xưa cho đó là hàm của con rồng nên mới đặt tên chùa là Hàm Long. Theo truyền thuyết, hơn trăm năm về trước, cái hang này ăn thông ra bờ sông Chùa. Đã có người thử thả trái bưởi từ miệng hang, trái bưởi theo đường hầm trôi ra giữa dòng sông và nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Qua thời gian, do lũ lụt, mưa gió làm đất đá chài lấp dần cửa hang. (Năm 1994, Cty Du Lịch Phú Yên cho mở lại cửa hang để phục vụ khách du lịch, nhưng công việc bị ngăn lại vì sợ ảnh hưởng đến nền móng của tháp Nhạn đứng bên trên).

    Tháp được chạm khắc khá hài hoà, đường nét tinh xảo, mềm mại là bậc thầy của nghệ thuật kiến trúc thời bấy giờ và mãi mãi sau này. Ngọn tháp này tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc độc đáo của người Chăm, vừa mang vẻ đẹp hoành tráng vừa toát lên vẻ thanh thoát nhẹ nhàng tô điểm cho thành phố Tuy Hoà vẻ nên thơ.

    Chung quanh việc xây dựng ngọn tháp trên núi Nhạn, có nhiều truyền thuyết khá thú vị: thuở ấy có ông Lương Phù Già (tức Lương Văn Chánh) giao tranh với quân Chiêm Thành. Chiến trường diễn ra ở phần đất thành phố Tuy Hoà ngày nay. Quân của ông Phù Già đóng ở núi Nựu (Nựu Sơn), quân Chiêm đóng ở núi Nhạn để cố thủ. Giao tranh lâu ngày nhưng không phân thắng bại. Để tránh đổ máu gây tang tóc cho lương dân, hai bên giao ước với nhau sẽ cùng xây tháp, tháp của bên nào xây to hơn, nhanh hơn là bên đó thắng, bên kia phải rút quân khỏi phần đất Phú Yên. Địa điểm được hai bên lựa chọn là quân Chăm trên núi Nhạn, quân ông Phù Già trên núi Cổ Rùa, một phần nhô ra của núi Nựu.

    Quân ông Phù Già cho quân lính chặt tre, chẻ thành sợi mỏng và đan thành những tấm như tấm phên, phất giấy, bôi sơn rồi ghép lại vào các rường cây thành ngôi tháp cao to đến trăm trượng, phải ngửa mặt mới trông thấy đỉnh, từ đầu chân tháp bên này ngó qua bên kia con người chỉ bằng hột bắp (!?). Quân Chăm dốc toàn sức lực ngày đêm xây đắp cho đến khi sắp hoàn thành thì ngọn tháp của ông Phù Gìa đã hoàn thành, sừng sững một góc trời rất hoành tráng. Quân Chăm đành phải chấp nhận thua cuộc. Để tránh những hậu hoạ có thể xảy ra (như dùng ngôi tháp làm nơi cố thủ), ông Phù Già thách thức Chiêm Thành đốt tháp. Tháp bên nào cháy trước thì bên đó thắng cuộc và bên kia phải rút binh ra cách xa phần đất ước hẹn trước đây 300 dặm (!?). Quân Chăm y hẹn, cho quân sĩ mang cây khô, bổi chà chất quanh tháp tầng tầng lớp lớp rồi nổi lửa đốt. Cột lửa bên núi Nhạn cao ngất trời, cháy từ ngày này qua tháng khác nhưng tháp vẫn cứ đứng vững như trụ đồng, trong khi đó tháp của ông Phù Già chỉ cháy một đêm, sáng ra tháp biến mất. Lương Văn Chánh mang đại quân đến chân núi Nhạn buộc quân Chăm phải thực hiện điều đã ấn định, quân Chăm đành phải rút quân qua khỏi bên kia đèo Cả.

    Ngày nay, cụm thắng cảnh “Núi Nhạn – Sông Đà“ đã trở thành biểu tượng của Phú Yên và Tháp Nhạn đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp Quốc gia.

    Hàng năm vào dịp lễ, Tết, trên núi Nhạn có tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, vui chơi giải trí ….. Đặc biệt vào rằm tháng Giêng Âm lịch hàng năm, nơi đây diễn ra đêm thơ Nguyên tiêu thu hút đông đảo văn nghệ sĩ và du khách gần xa.

TRUYỀN THUYẾT:

    Về quá trình hình thành núi, truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa đất Tuy Hoà là một vùng đầm lầy trũng thấp, là nơi cư trú của nhiều loài thuỷ sinh và mãnh thú hung dữ. Đời sống của người dân luôn bị đe doạ. Và để tạo nên một cảnh sống mới, an toàn hơn về mọi mặt, một ngày kia người khổng lồ do Trời sai xuống gánh núi lấp đầy vùng trũng và lấn ra phía biển Đông. Thiên sứ khổng lồ kia miệt mài gánh đất và núi, làm rơi vãi từng cụm nhỏ ở núi Miếu (Hoà Quang) và gành Đá (Hoà Thắng)… và chẳng bao lâu thì lấp đầy cả cánh đồng Tuy Hoà bây giờ. Đến lượt bắt đầu lấn biển, vị thiên sứ kia gắng làm cho xong để sớm trở về trời nên đã gánh núi nặng gấp hai ba lần, đến nỗi khi gần tới biển, chiếc đòn gánh gãy đôi làm rơi xuống hai cụm núi là núi Nhạn và Chóp Chài. Đòn gánh gãy đồng nghĩa với công việc “xẻ núi lấp sông” không thể tiếp tục được nữa và thiên sứ khổng lồ nọ đành ngậm ngùi quay về Trời, chưa tạo được những cụm núi chắn sóng ngoài mạn biển xa. Câu chuyện huyền thoại này được truyền tụng từ khá lâu và có nhiều chi tiết khác nhau, nhưng nội dung chính là hai hòn núi Chóp Chài và núi Nhạn là do người khổng lồ làm gãy đòn gánh mà rơi xuống.
    Trên núi Nhạn có rất nhiều cây cối rậm rạp, đặc biệt là mai rừng nở vàng vào mùa xuân và mùa hạ, ở phía Đông-Nam gần sông Chùa có một trảng sim nhỏ, đến mùa hoa sim nở tím cả một vùng. Trên núi có nhiều loài chim như nhạn, cò và đặc biệt là rất nhiều khỉ. Mãi đến năm 1961, khỉ vẫn sống từng đàn trên núi này cho đến khi chiến tranh ác liệt nổ ra, quân đội Sài Gòn cho đóng đồn và đặt súng đại bác trên núi ngày đêm bắn phá các vùng căn cứ, yểm trợ cho các cuộc hành quân nên khỉ đã bỏ về rừng núi đại ngàn, chim chóc cũng di trú nơi khác, cây cối bị đốn chặt phát quang để phục vụ cho tầm quan sát quân sự.
    Đứng ở độ cao 64 m trên đỉnh núi Nhạn, du khách có thể bao quát một vùng non nước Phú Yên với toàn cảnh thành phố Tuy Hoà, làng hoa Bình Ngọc, núi Đá Bia, biển Đông và hai chiếc Cầu đường sắt và đường bộ dài 1.100 m bắt song song qua sông Đà Rằng. Trên đỉnh núi Nhạn có Tháp Chàm cổ kính, còn có tên gọi là Tháp Nhạn được người Chiêm Thành xây dựng.
    Mạn Đông-Nam chân núi Nhạn có ngôi chùa Hàm Long nằm khuất sau chòm cây cổ thụ, lưng tựa vào vách núi đá lớn dựng đứng, cao ngất như muốn nhoài ra ôm choàng lấy ngôi chùa như một chiếc quạt khổng lồ xoè rộng. Chùa Hàm Long sau đổi tên là Kim Long tự và được vua Bảo Đại năm thứ 5 ban sắc tứ. Dưới chân vách đá, bên cạnh chùa có một cái hang, đường kính chừng 3 mét xuyên vào lòng núi và ăn thông ra bờ sông. Các cụ ngày xưa cho đó là hàm của con rồng nên mới đặt tên chùa là Hàm Long.
    Theo truyền thuyết, hơn trăm năm về trước, cái hang này ăn thông ra bờ sông Chùa. Đã có người thử thả trái bưởi từ miệng hang, trái bưởi theo đường hầm trôi ra giữa dòng sông và nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Qua thời gian, do lũ lụt, mưa gió làm đất đá chài lấp dần cửa hang.
    Ngày nay, cụm thắng cảnh “Núi Nhạn – Sông Đà“ đã trở thành biểu tượng của Phú Yên và Tháp Nhạn đã được công nhận là Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp Quốc gia. Hàng năm vào dịp lễ, Tết, trên núi Nhạn có tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, vui chơi giải trí ….. Đặc biệt vào rằm tháng Giêng Âm lịch hàng năm, nơi đây diễn ra đêm thơ Nguyên tiêu thu hút đông đảo văn nghệ sĩ và du khách gần xa.

   

4.Cảng Vũng Rô

Cảng Vũng Rô     Cảng Vũng Rô là một cảng biển tổng hợp địa phương và chuyên dụng (cảng loại II) của Việt Nam nằm trong vũng Rô, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên . Vũng Rô sâu tới 21 mét, lại có núi Đá Bia che chắn gió từ phía Đông Bắc đã tạo ra điều kiện tự nhiên lý tưởng cho cảng Vũng Rô. Cảng hiện tại có thể tiếp nhận tàu biển trọng tải đến 10 nghìn DWT.

    Cảng Vũng Rô được xây dựng từ năm 1966 bởi chính quyền Việt Nam Cộng hòa làm một cảng quân sự. Nơi đây, đêm 5 tháng 6 năm 1968, tiểu đoàn 14 đặc công tỉnh đội Phú Yên (Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam) đã tấn công căn cứ quân sự của Quân đội Hoa Kỳ gây một số thiệt hại về người và khí tài.

    Trong mấy năm gần đây, cảng được đầu tư xây dựng hoàn chỉnh và đi vào hoạt động ngày càng hiệu quả. Lượng hàng hóa thông qua cảng hàng năm khoảng 500.000 tấn.

    Theo quy hoạch hệ thống cảng biển của Việt Nam, đến năm 2015, trong vịnh Vũng Rô sẽ có một khu bến cảng chuyên dùng khác, gọi là khu bến cảng Đông Vũng Rô (khi đó khu bến cảng hiện tại sẽ được gọi là bến Tây Vũng Rô) được xây dựng để phục vụ cho nhà máy lọc dầu Vũng Rô. Khu bến cảng mới có thể tiếp nhận tàu chuyên chở hàng lỏng đến 250 nghìn DWT và sẽ trở thành khu bến chính.



   

5.Vịnh Xuân Đài

Vịnh Xuân Đài     Vịnh Xuân Đài (thuộc TX Sông Cầu) có diện tích mặt nước 130,45 km², được tạo thành nhờ dãy núi Cổ Ngựa chạy dài ra biển độ 15 km tạo thành bán đảo Xuân Thịnh bao bọc lấy vịnh Xuân Đài và đầm Cù Mông trông giống hình đầu con kỳ lân. Khi đi đường bộ lên đến đỉnh dốc Găng nằm trên quốc lộ 1A, người ta có thể nhìn thấy quang cảnh của vịnh này với rừng dừa bao bọc khu vực bờ của vịnh và vòng cung núi bao bọc khu vực vịnh Xuân Đài. Tất cả tạo nên một bức tranh sơn thủy hài hòa và thơ mộng. Trong vịnh có nhiều vũng biển và bãi tắm dẹp như Vũng La, Vũng Sứ, Vũng Chào... và nhiều đảo, bán đảo như cù lao Ông Xá, hòn Nhất Tự Sơn, Mũi Đá Mài, mũi Tai Mã....

    Năm 1775, vịnh Xuân Đài là nơi đánh dấu chiến tích đầu tiên của người anh hùng áo vải Tây Sơn – Nguyễn Huệ khi ông cầm quân đánh tan quân ngũ dinh của Nguyễn Ánh.

    Năm 1832, Vịnh Xuân Đài là nơi khởi đầu mối bang giao Việt - Mỹ trong lịch sử. Đặc sứ Hoa Kỳ Edmun Robert mang quốc thư thả neo tại Vũng Lắm. Vua Minh Mạng phái Viên ngoại lang Nguyễn Tri Phương, Tư vụ Lý Văn Phức cùng Tuần vũ Phú Yên tiếp nhận quốc thư và tiếp xúc với phái đoàn Hoa Kỳ theo nghi thức ngoại giao trang trọng nhất.

    Vịnh Xuân Đài là một trong những vịnh được các chuyên gia đánh giá là có tiềm năng du lịch lớn nhất nhì miền Trung với cảnh sắc hữu tình, có nhiều đảo, bãi tắm rất đẹp và hoang sơ. Nơi đây đang được quy hoạch để phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, thể thao nước, sinh thái biển. Xuân Đài còn nổi tiếng vì có nhiều loại hải sản ngon, quý như ghẹ Sông Cầu, tôm hùm, cá mú…     Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký Quyết định số 177/QĐ-BVHTTDL xếp hạng di tích cấp Quốc gia danh lam thắng cảnh Vịnh Xuân Đài, thuộc thị xã Sông Cầuhuyện Tuy An (Phú Yên)

   

6.Núi chóp chài

Nui Chop Chai     Núi Chóp Chài cao 391 mét, nổi lên giữa đồng bằng Tuy Hòa, thuộc địa phận xã Bình Kiến, ngoại ô thành phố Tuy Hòa, cách trung tâm thành phố khoảng 4 km về phía Tây Bắc, ngay sát quốc lộ 1A. Núi Chóp Chài cùng với sông Ba là những biểu tượng quen thuộc về Phú Yên.     Núi Chóp Chài có hình dáng khá vuông vức trông tựa như một kim tự tháp khổng lồ. Đừng trên đỉnh núi sẽ có được tầm nhìn bao quát tới biển, vùng đồng bằng dưới chân núi. Trên núi có hang Dơi (hay Trai Thuỷ) rộng 5 m và rất sâu. Lưng sườn núi có các công trình kiến trúc Phật giáo như chùa Hoà Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm.

   

7.Suối nước nóng Triêm Đức

Triem Duc     Từ Thị trấn La Hai (Huyện Đồng Xuân) đi ngược về hướng đầu nguồn Sông Kỳ Lộ khoảng 7km, phía dưới Vực Lò, thuộc Thôn Triêm Đức, xã Xuân Quang II, có một nguồn nước nóng chảy quanh năm, đó là suối nước nóng Triêm Đức.

    Tại đây, bên bãi cát trắng phau của dòng sông Kỳ Lộ, có một khối đá to. Từ trong khe đá, một dòng nước nóng khoảng 70 độ C theo một rãnh nhỏ chảy ra ngoài. Lúc trời dịu mát, hơi nước bốc lên có thể nhìn thấy được. Du khách có thể luộc chín trứng gà ở suối nước nóng này. Nhiều người đến đây tham quan đã đem theo cả gà ,vịt sống để làm thịt và nấu nướng tại chỗ. Tương truyền, bùn ở chỗ dòng nước chảy ra có thể chữa được một số bệnh.

    Những ngày lễ, tết nơi đây đông đảo du khách đến tham quan, du lịch. Nhiều người đến đây lấy nước và bùn về chữa bệnh.

Nguồn: Báo Phú Yên

   

8.Mũi Điện-Nơi đón bình minh sớm nhất

Mui dien     Dọc khu vực miền Trung có tổng cộng 18 ngọn hải đăng. Mỗi ngọn hải đăng có một bề dày lịch sử riêng và có một tầm quan trọng của nó. Mảnh đất Phú Yên cũng có một cảnh quan kỳ thú ở phía Nam…

    Nơi có một doi đất liền của tổ quốc vươn xa nhất ra biển Đông, đây là điểm cực đông của tổ quốc với ngọn hải đăng được gọi là mũi Điện.

    Cuối thế kỷ XIX, đại úy hải quân Pháp Varella phát hiện và ghi dấu tầm quan trọng của doi đất nói trên trên bản đồ hàng hải và người Pháp gọi là mũi Cap Varella hay Mũi Nạy. Năm 1890, người Pháp xây dựng hải đăng trên đỉnh Mũi Nạy ở độ cao 86 m so với mặt biển. Thời đó người dân đi biển nhìn vào ngọn hải đăng để định vị và gọi quen miệng đó là Mũi Điện.. ..

Mui dien     Từ chân tháp đến ngọn, đèn biển cao khoảng 26 m với 100 bậc cầu thang xoắn ốc làm bằng gỗ Lim. Ngọn hải đăng này sử dụng thiết bị thu năng lượng mặt trời phát đèn tự động từ 6 giờ tối đến 6 giờ sáng. Trước kia, muốn đến được Mũi Điện người ta phải đi tàu mất hàng giờ. Ngày nay, du khách có thể ngồi trên xe ô tô theo con đường nhựa phẳng lì dọc theo bờ biển để đến Mũi Điện với khoảng vài chục phút từ TP Tuy Hoà. Từ chân núi, du khách mất khoảng 20 phút là có thể lên đến đỉnh Mũi Nạy, khám phá ngọn hải đăng. Điểm đặc biệt, dưới chân Mũi Điện là biển Bãi Môn nằm lọt giữa hai dãy núi tạo thành một vịnh nhỏ nước trong như ngọc bên cạnh một đồi cát di động như đồi Hồng ở Mũi Né. Vừa cắm trại, vừa tắm biển, vừa thưởng thức hải sản và vừa có thể đón ánh bình minh sớm nhất trên toàn cõi Việt Nam là điều hấp dẫn đối với tất cả những ai mê du lịch, khám phá.

    Với vai trò vị trí và cảnh sắc của quần thể danh thắng này, năm 2008, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã công nhận Bãi Môn - Mũi Điện là di tích danh thắng cấp quốc gia.Như vậy trong vòng bán kính 5km, cùng với di tích Bãi Môn - Mũi Điện có di tích lịch sử văn hoá tàu không số Vũng Rô, di tích Núi Đá Bia cùng những bãi biển đẹp đã tạo cho nơi này trở thành một quần thể các di tích lịch sử và danh thắng tuyệt đẹp, là điểm đến của nhiều du khách trong nước và quốc tế./.

   

9.Suối nước khoán Phú Sen

Phu Sen     Suối nước khoáng Phú Sen nằm trong địa phận xã Hòa Định Tây, huyện Phú Hòa, cách TP Tuy Hòa 25km về phía Tây theo đường Quốc lộ 25.

    Nguồn nước khoáng ở đây được đánh giá thuộc loại nước khoáng chất lượng, có nhiệt độ trên 70°C, hàm lượng các loại khoáng chất rất bổ ích cho cơ thể, nơi đây còn có lớp bùn khoáng rất tốt.

    Nước phun lên thành nhóm mạch giữa cánh đồng lúa là bồi tích sông Đà Rằng tạo thành một bãi sình lầy kích thước cỡ 20m x100m. Tại mạch lộ lớn nhất người ta đã xây 2 giếng, mực nước dâng cao trên mặt đất 0,5m và tự chảy ra từ 2 vòi với lưu lượng 0,3l/s.

    Ngoài ra còn có một số điểm lộ dạng thấm rỉ bên bờ vực suối Du Tôm cách điểm lộ chính khoảng 100m, lưu lượng rất nhỏ. Hiện nay, suối nước khoáng Phú Sen được triển khai dự án Khu du lịch kết hợp chữa bệnh nước khoáng Phú Sen.

    Sau khi hoàn thành các hạng mục công trình và đưa vào sử dụng, đây sẽ là điểm nghỉ dưỡng, tắm chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ và vui chơi giải trí lý tưởng cho khách du lịch.



   

10.Thủy điện sông Ba Hạ

Song Ba Ha

    Công trình thủy điện Sông Ba Hạ cách TP.Tuy Hoà 60 km theo quốc lộ 25, thuộc địa phận 3 huyện: Sơn HòaSông Hinh (Phú Yên); Krông Pa (Gia Lai).

    Các hạng mục chính của công trình gồm: hồ chứa nước rộng trên 53 km2 được bao bọc bởi những khu rừng tự nhiên.

    Nhà máy thủy điện với 2 tổ máy công suất 220 MW, có cửa lấy nước gồm 4 khoang dẫn nước vào 2 đường ống dài 470 m, hệ thống đập chính, đập phụ, đập tràn xả lũ và kênh dẫn nước dài 3.521 m.

    Công trình thủy điện Sông Ba Hạ cùng với hồ chứa nước, Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai, các khu rừng tự nhiên trong vùng sẽ là tiềm năng to lớn để phát triển du lịch sinh thái theo trục Đông - Tây của tỉnh Phú Yên .



   

11.Thủy điện Sông Hinh

Song Hinh     Công trình thuỷ điện và hồ Sông Hinh nằm trên phạm vi hai xã Đức Bình Đông và Sông Hinh thuộc huyện Sông Hinh.

    Nhà máy thuỷ điện Sông Hinh có hai tuốc-bin công suất 70MW, có đường ống dẫn nước xuyên qua lòng núi vào tuốc-bin, hệ thống đập ngăn, đập tràn và 6 cửa xả lũ lớn.

    Lòng hồ nước trong xanh, rộng 41km2 với nhiều loài cá nước ngọt sinh sống, trong đó có nhiều loài cá đặc sản như: cá mã, cá sảnh, cá lăng, cá thác lác...

    Hồ thuỷ điện Sông Hinh có tiềm năng du lịch sinh thái rất lớn. Du khách đến đây sẽ tham quan hệ thống đập ngăn nước đồ sộ và nhà máy phát điện, vừa đi thuyền trên lòng hồ để ngắm cảnh vừa thưởng thức các món cá đặc sản hoặc vào thăm các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở quanh khu vực hồ.



   

12.Vực Phun

Vuc Phun      Đi về phía thượng nguồn sông Bánh Lái, tới vùng núi Đá Đen thuộc xã Hòa Mỹ Tây, huyện Tây Hòa, Vực Phun hiện ra giữa núi rừng hùng vĩ, đẹp như một bức tranh.

     Dòng nước của con suối Cái chảy đổ xuống vực sâu tạo thành một dòng thác lớn trắng xóa. Dưới vực có nhiều tảng đá lớn khiến nước dội ngược lên rất mạnh. Do vậy, nhìn từ xa ta có cảm giác như nước được phun lên từ lòng vực. Có lẽ vì vậy mà dân địa phương đặt tên là Vực Phun. Bờ vực có chỗ là vách đá cheo leo, dựng đứng như bức tường thành, có chỗ là những phiến đá rộng lớn, phẳng lỳ, làm cho hình dáng Vực Phun thật đa dạng và hùng vĩ. Xung quanh vực là khu rừng nguyên sinh. Đến với Vực Phun, du khách sẽ được thưởng ngoạn một vùng phong cảnh non nước hữu tình cùng nhiều hoạt động du lịch hấp dẫn như: tìm hiểu sinh thái rừng, leo núi, tắm suối, cắm trại...



   

13.Bãi biển Long Thủy-Hòn Chùa

Long Thuy     Đi về hướng Bắc, cách trung tâm thành phố Tuy Hoà-Phú Yên khoảng 10 km đường ôtô, nằm gần kề Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã An Phú, thành phố Tuy Hòa. Long Thuỷ đã từ lâu được xem là bãi biển đẹp, được kết hợp hài hoà độc đáo của phong cảnh thiên nhiên, cùng với những rặng dừa xanh rợp bóng kéo dài trên bờ biển cát mịn.
    Cách bờ không xa có cụm đảo còn hoang sơ như đảo Hòn Chùa có diện tích khoảng 0,22 Km2 và 2 đảo nhỏ là Hòn Dứa và Hòn Than. Khu vực quanh các đảo này có những rạn san hô có diện tích khoảng 100 ha. Long Thuỷ – Hòn chùa rất thích hợp cho đầu tư du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Có thể tổ chức các dịch vụ: lặn biển, câu cá, lướt ván và các trò chơi thể thao trên biển…
    Vào trung tuần tháng 6 Âm lịch hàng năm, tại đây thường diễn ra lễ hội cầu ngư. Trong dịp này có những nghi thức cúng tế để cầu an, cầu phúc vạn làng.

    Người dân Long Thuỷ phần lớn đến đây chuyên làm nghề đánh bắt hải sản, du khách có thể tắm biển hoặc du thuyền và được thưởng thức nhiều loại hải sản tươi,là những loại đặc sản không phải nơi nào cũng có.



   

14.Đèo Cả

Deo Ca     Với chiều dài chừng 10 kilomet, nhiều đoạn bám lượn quanh co trên vách biển Vũng Rô, Đèo Cả không hùng vĩ như Đèo Hải Vân. Tuy nhiên, những gì mà thiên thiên và lịch sử phô bày ở quần sơn Đèo Cả khiến có thể coi đây là "Đệ nhất hùng sơn" trên con đường thiên lý Bắc Nam.

    Vùng núi Đèo Cả - tên chữ là Đại Lãnh - là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Đây là một khối đá hoa cương khổng lồ có diện tích chừng 20 ngàn hecta, tạo ra một quần sơn với nhiều đỉnh cao từ 570 đến 2051m, riêng đỉnh Đèo Cả cao 407m.

    Dự án Hầm đường bộ đèo Cả trên quốc lộ 1A đang được xậy dựng với tổng chiều dài 13,4 km và tổng mức đầu tư là 15.603 tỷ đồng.Dự án có điểm đầu tại lý trình Km 1353+500 – QL1 thuộc thôn Hảo Sơn, xã Hòa Xuân Nam, Huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; Điểm cuối tại lý trình Km 1374+525 thuộc thôn Cổ Mã, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Trong đó chiều dài hầm đèo Cả là 3,9 km; chiều dài hầm đèo Cổ Mã 500m; đường dẫn và cầu trên tuyến là 9 km.

   

15.Đầm Ô Loan

Dam O Loan     Đầm Ô Loan thuộc địa phận huyện Tuy An, cách thành phố Tuy Hoà- Phú Yên 20 km về phía Bắc. Đầm được bao bọc xung quanh bởi 5 xã và 10 thôn làng với diện tích toàn mặt nước là 1570 ha

    Trong Đầm có nước mặn từ biển vào mỗi khi thủy triều lên, có nước ngọt từ sông Cái từ các suối nhỏ đổ vào. Lòng đầm có chỗ sâu nhất khoảng 6 mét, chỗ cạn khoảng trên 1 mét, nhưng cũng có những chỗ sâu như cửa Lễ Thịnh thuộc địa phận An Hải mực nước sâu tới 10 mét

    Tới thăm Đầm Ô Loan, du khách sẽ được thưởng thức món đặc sản là sò huyết cơm dày thịt ngọt và thơm, tiếp đến là món hàu với nhiều cách chế biến khác nhau như nấu cháo, nấu canh, xào, nhưng có lẽ ngon nhất là món hàu tái và món hàu trộn với đậu phộng và cà chua rất hấp dẫn. Ngoài ra món đặc sản cua hoành đế với cái mai màu đỏ hoặc vàng đậm, cua có một chùm lông vàng ngắn, cách di chuyển của nó cũng đặc biệt so với những loại cua khác là bò ngang, nơi đây còn có các món khác như tôm rắn, tôm bạc, mực, sứa, rau câu, điệp, cá mú…

    Hiện nay Đầm Ô Loan được Bộ Văn hóa Thông tin xếp vào di tích danh thắng quốc gia, hàng năm vào ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch, với những hoạt động văn hoá như cúng thần, cầu ngư, hò bá trạo diễn ra sôi nổi, nhân dân quanh Đầm thường tổ chức lễ hội đua ghe với sự tham gia của nhiều địa phương tham gia, đây là nét đẹp của văn hoá dân gian truyền thống đáng được chúng ta gìn giữ và phát huy đến muôn đời.



   

16.Sông Bàn Thạch

Song Ban Thach        Sông Bàn Thạch dài 60 cây số, phát nguyên tại Hòn Dù, một nhánh của Trường Sơn cao 1104m, chảy qua các xã thuộc tổng Hòa Đa và Hòa Đồng rồi ra cửa Đà Nông. Mùa lụt sông chảy xiết vì nước lũ từ các con suối tràn về. Mùa nắng, nước Bàn Thạch chảy lờ đờ, lòng sông cạn nên chỉ lợi cho nông nghiệp.

       Sông bắt nguồn từ phía nam tỉnh, phần thượng nguồn chảy theo hướng đông bắc gần như vuông góc với dãy núi Đèo Cả, sau đó chuyển hướng tây nam – đông bắc, đến Đông Mỹ lại chuyển hướng đông bắc – tây nam đổ ra cửa Đà Nông. Trong mùa cạn, dòng chảy chuyển hướng sang đông nam – tây bắc, đổ ra biển ở cửa Phú Hiệp. Hướng chảy khác các sông trong tỉnh. Độ dốc ở thượng nguồn rất lớn, tới 75%0, khi chảy đến vùng đồng bằng chỉ còn 2%0. Trên sông có các công trình thủy lợi: Trạm bơm Nam Bình, đập Phú Hữu, đập An Sang, hồ Đồng Khôn và các vị trí quy hoạch khác như đập Đá Đen, hồ Mỹ Lâm, hồ Phước Giang…

       Tương truyền sông Bàn Thạch là thánh địa của loài cá sấu. Dưới đời Minh Mạng, quan sở tại Phú Yên tâu rằng cá sấu ở đây hại người hơn cả cọp, xin thưởng cho ai giết cá sấu như giết cọp. Dân hai bên bờ nộp nhiều bộ da cá sấu để lãnh thưởng. Theo Đại Nam nhất thống chí, có thể sông Bàn Thạch là sông Phan Định mà Nguyễn Trãi nói đến trong Địa dư chí từ thế kỷ 15. Lý Thường Kiệt đã phải dừng ngựa trước dòng sông đầy sấu dữ này. Để đoàn quân an toàn qua sông, Lý Thường Kiệt phải tâu vua phong cho ba con cá sấu thủ lĩnh ở đây là Hiếu Thuận tam thần. Nhưng theo học giả Hoàng Xuân Hãn trong tác phẩm Lý Thường Kiệt thì sông Phan Định có thể là sông Tu Mao, tức sông Tân An chảy ra cửa Quy Nhơn.
           Trích từ Báo Phú Yên

   

17.Sông Kỳ Lộ

Song Ky Lo        Sông Kỳ Lộ còn có tên gọi khác là Cà Lố chảy trên địa bàn xã Xuân Quang 2 huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên . Sông bắt nguồn từ vùng rừng núi ở tỉnh Gia Lai có các phụ lưu như sông Cà Tơn, suối Cối, thác Dài, sông La Hiên hợp thành.

       Ở đầu nguồn, lòng sông Kỳ Lộ sâu và hẹp, hai bờ là những vách núi thẳng đứng. Xuôi về hạ lưu hai bờ là bãi cát phẳng phiu, nước quanh năm trong xanh, nhìn thấu đáy. Vì vậy nên có câu ca dao nói về con sông này:


              Sông Kỳ Lộ vừa sâu vừa hẹp
              Nước Kỳ Lộ vừa mát vừa trong
              Thuyền anh bơi ngược dòng sông
              Nhìn em cho thỏa tấm lòng nhớ thương.


TRUYỀN THUYẾT:
    Dòng sông ngắn này được gắn liền với truyền thuyết về một người làm thuê cho chủ sau dân đưa lên làm vua: vua Chi Lới. Vua Lới chính là Chi Lới ở Phước Tân trong truyền thuyết về hòn Ông. Sau khi thần dân khiêng đầu vua về xứ sở không được bèn đặt đầu vua Chi Lới tại Kỳ Lộ, lấp đất tạo thành ngôi mộ lớn. Nhưng đầu vua không yên, lúc nào cũng lúc lắc, mắt mở trừng trừng sáng quắc, sáng đến độ bao nhiêu đất lấp dày vẫn bị bắn tung ra ngoài, trong khi đó các thần dân cứ ngậm ngùi thương tiếc, cố ra sức lấp kín mộ đầu vua lại khiến đầu vua nổi giận lăn nhào từ Kỳ Lộ xuống tận La HaiTuy An. Vệt lăn sượt của chiếc đầu mạnh đến nỗi rạch đất đá tạo thành dòng sông, tức sông Kỳ Lộ ngày nay.

   


Quay về trang trước


Trang chủ    Mạng lưới    Danh bạ    Trao đổi thư    Hỏi đáp    Thị trường    Tuyển dụng    Download   
Copyright © NHNo và PTNT Việt Nam-Chi nhánh tỉnh Phú Yên.  Số 321 Trần Hưng Đạo-Tuy Hòa-Phú Yên
Điện thoại: 057.3824266-057.3825093.  Fax:057.3823002
Website: www.agribankphuyen.com.vn    Email: Agribank@agribankphuyen.com.vn   SWIFT code: VBAAVNVX